Bước vào đời

Chuyên mục: TRUYỆN
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà xuất bản: Trẻ
Giới thiệu: Bước vào đời - trích hồi ký Đào Duy Anh
Trong khi ở Bắc kỳ Viện Nhân dân đại biểu bị bọn tư sản mại bản và địa chủ toàn là tay sai của chính phủ thực dân lũng đoạn, thì ở Trung kỳ các phần tử tiến bộ chiếm đại đa số, gồm những cụ chính trị phạm, một số công chức và quan lại từ chức để ra hoạt động kinh tế và chính trị, như trên đă nói, do đó cụ Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Viện trưởng. Cuộc vận động tuyển cử thành công tốt đẹp như thế là do các phần tử thanh niên các tỉnh tham gia, trong đó thì ở Huế và ở Tourane có hai nhóm Trần Đình Nam và Nguyễn Xương Thái là 
tích cực nhất. Được hai nhóm thanh niên này tận tình ủng hộ, cụ Huỳnh Thúc Khàng đã nhận đứng ra lập một tờ báo để làm cơ quan bênh vực quyền lợi của nhân dân, làm hậu thuẫn cho hoạt động của Viện dân biểu. Cụ Huỳnh về quê nghỉ một thời gian, bấy giờ trở lại Tourane để cùng với các anh em đồng chí bàn bạc bắt đầu công việc xây dựng nhà báo thì vừa gặp tôi. Tình cờ chẳng hẹn mà lên, cái cơ hội để thực hiện hoài bão bấy lâu bỗng tự đến trước mắt tôi, không chờ anh em phải nói nhiều, tôi nhận lời ngay. Liền ngày hôm sau tôi trở về Tourane để cùng anh em bắt tay vào công việc. Chúng tôi định rằng trong khi anh em khác ở nhà lo kêu gọi cổ phần thành lập một công ty hợp cổ để kinh doanh nhà in mà nhà báo - một tờ báo không có nhà in của mình không thể giữ trọn độc lập được - thì tôi phải đi Sài Gòn để nghiên cứu công việc nhà báo, nhất là cách tổ chức bộ biên tập. Thế là cái ước mơ đi Sài Gòn của tôi đã được thực hiện và từ nay tôi đã là người cộng tác với cụ Huỳnh Thúc Kháng tổ chức tờ báo đầu tiên của xứ Trung kỳ.

Tại sao tôi là một người bấy lâu chỉ học chữ Pháp mà nay nhất đán ra nhận trách nhiệm trong việc biên tập một tờ báo quốc văn? Cũng như những thanh niên cùng lứa tuổi với tôi, chúng tôi lớn lên trong khi chế độ khoa cử hãy còn, cho nên khoảng sáu bảy tuổi thì cha mẹ đã cho đi học chữ Hán, mãi đến năm 1915, khi thấy ở Bắc kỳ đã bỏ chế độ khoa cử thì các bực cha mẹ mới thấy học chữ Hán là không hợp thời nữa mà bắt đầu cho con đi đến trường Pháp Việt để học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Trong khi học chữ Hán, thỉnh thoảng tôi được nghe thầy học cùng các bạn của thầy đọc cho nhau nghe những bài thơ nôm và phú nôm được truyền tụng trong địa phương, vì độ này trong chương trình thi hương đã có kỳ thi quốc ngữ, cho nên các thầy đồ cũng phải trau đồi văn nôm. Ở nhà thì từ bé tôi đã được nghe mẹ tôi thường kể thuộc lòng những truyện nôm xưa, từ Kiều, đến Nhị Độ Mai, Tống Trân, Thạch Sanh, Hoàng Trừu, Phạm Công Cúc Hoa, Phương Hoa Phạm Tài. Mẹ tôi là một người không biết chữ, chỉ nghe lỏm người khác đọc mà thuộc lòng nhiều nhiều truyện nôm xưa, cùng nhiều phương ngôn tục ngữ, thậm chí trong khi nói chuyện thường cứ vài ba câu là xen vào một câu ví von rất ý nhị. Do sống trong không khí tinh thần thấm nhuần hương vị văn học chữ nôm ấy, cho nên đối với các truyện nôm xưa, tôi đã có nhiều hứng thú, nhất là đối với Truyện Kiều. Đến khi đã chuyển sang học quốc ngữ và chữ Pháp thỉ mỗi lần gặp người bán sách rong đến chợ nhà để bán các truyện xưa bằng chữ nôm và chữ quốc ngữ là tôi xin, mua về đọc, nhờ thế mà đến khi vào Huế theo học bậc cao đẳng tiểu học thì tôi đã thuộc được nhiều truyện xưa rồi. Ở trường quốc học, mặc đầu chỉ chuyên đọc sách văn học Pháp, nhiều khi tôi đã cùng người bạn học thân nhau từ Thanh Hóa và bấy giờ cùng ở ký túc xá với nhau là anh Đặng Văn Tế ngồi hàng giờ ở dưới bóng phi lao mà trao đổi cảm tưởng và ý nghĩ về những câu, những đoạn mà chúng tôi cho là thú của Truyện Kiều. Lại được thầy dạy quốc văn - thầy Võ Liêm Sơn - Thỉnh thoảng chọn đọc cho chúng tôi nghe mà thưởng thức những truyện ngắn của Nguyễn Bà Học và Phạm Duy Tốn đăng ở tạp chí Nam Phong, đo đó khêu gợi hứng thú của chúng tôi đối với quốc văn, cho nên hễ ngày nghỉ là tôi ra nhà người bà con làm công chức ở Huế để đọc bảo Nam Phong mà ông ta đặt mua từ số đầu. Tôi tự học văn học Việt Nam và biết viết quốc văn phải nói thực một phần không ít là nhờ chuyên đọc tạp chí Nam Phong. Trong khi dạy học ở Đồng Hới, đồng thời với việc học thêm chữ Pháp theo một chương trình nhất định, tôi không bỏ việc nghiên cứu quốc văn và Hán văn, vẫn lấy tạp chí Nam Phong làm công cụ chính. Bây giờ đọc lại: “Chính học và tà thuyết” cửa Ngô Đức Kế đăng trong tạp chí Hữu Thanh, tôi nhận thấy ý nghĩa quan trọng của bài ấy về mặt chính trị.

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây